BÌA SAU Sử liệu Trung Quốc và Nhật Bản cho biết trước khi sang Nhật định cư vào năm 1658, Chu Thuấn Thủy đã nhiều lần theo tàu buôn đến Việt Nam. Trong khoảng thời gian ở nước ta, không những sở học của Chu chẳng có ai nhận chân được giá trị, thậm chí có lúc Chu còn bị quản thúc và suýt mất mạng. Chắc hắn vì thế nên Chu đã từ giã Việt Nam để sang định cư ở Nhật với tư cách là một học giả về Nho học. Trước khi rời Việt Nam, Chu có viết một ký sự về khoảng thời gian bị câu lưu và phục dịch cho phủ chúa Nguyễn ở đất Thuận Quảng (Thuận Hóa - Quảng Nam). Tập ký sự này được viết vào năm 1657 và mang tên An Nam cung dịch kỷ sự (Ký sự phục dịch ở An Nam). Sau khi sang Nhật, Chu được nhiều người mến mộ tài năng nên đã có dịp thi thổ sở học của mình và đóng góp lớn vào việc nghiên cứu, phát triển Nho học trong nước Nhật lúc bấy giờ. Cho đến ngày nay, ở Trung Quốc và TỰA [của Chu Thuấn Thủy] Tôi lấy làm hổ thẹn là nước Trung Hoa ta đang bị suy vong, rợ ngoài vào chiếm quyền. Trời vốn đã không cho Du này tài thao lược để trị loạn, vậy Du làm sao dám đảm đương trách nhiệm đó. Bởi vậy, Du trốn sang nước ngoài, lưu ly đã mười ba năm nay, vượt biển từ nước này sang nước nọ, chịu đựng muôn vàn khổ cực, những mong đất trời tươi sáng lại, đất lún chìm rồi lại trổi lên. Đột nhiên có hịch của An Nam Quốc vương[16] chiêu vời kẻ hèn này. Khi thấy hịch đó, Du mới nghĩ đến lễ quân thần [17] vốn có từ ngàn năm nay, nếu không chết thì không thể nào bày tỏ được lễ đó. Nhưng nếu chết im lặng thì không làm sáng tỏ được tấm lòng của thần, bởi vậy thần không thể không đến triều đình An Nam để biện bạch. Huống nữa, nếu mối thù lớn[18] chưa báo thì làm sao Du có thể chết một cách vô nghĩa”[19]. Bởi vậy thái độ của Du là không kiêu mà cũng không hèn, lấy lễ để làm sáng tỏ. Quốc vương là người có kiến thức và kinh nghiệm (thức tập) phiến diện và nông cạn, nhưng tài khí lại gần như cao minh. Đám sàm phu lộng hành, cực lực thổi phồng lên, các nguyên thần thì lại câm miệng không nói một lời. Du một mình chống trả lại công kích từ bốn phía. Những áp lực Du chịu đựng còn lớn hơn Vệ Luật[20], lời than thở của Du chẳng có ai nghe tựa như Lý Lăng[21]. Mặc dầu chịu đựng thử thách trong mười một ngày, Du không hề dám xem nhẹ, nhưng cái khí áo đi xuống, áo người Mãn Thanh đơm nút chéo từ ngực sang vai trái rồi đi thẳng xuống hông. (Cách ăn bận của người Trung Quốc ngày nay một phần chịu ảnh hưởng của người Mãn Thanh).) [157] (Hai tay áo người Mãn Thanh thường cuốn lên, nhưng khi gặp vua quan có thể buông trùng ra bao trùm cả hai bàn tay để quỳ xuống đất lạy, bởi vậy mới có tên là tay áo “mã đề” (móng ngựa).) [158] (Tức Tử Lộ, học trò của Khổng Tử. Được cử sang nước vệ, chết trong loạn Nam Tử.)